Tuesday, 28 January 2014

How to Become a Monk or a Nun –

Preparing for Ordination.


Saturday, 18 January 2014

1. NGUYÊN NHÂN ĐỨC PHẬT CHẾ GIỚI
Đức Thế Tôn đã là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm bất cứ việc gì cũng cẩn thận chu đáo, không sơ sót dù là một chuyện nhỏ. Trong 12 năm đầu khi giáo đoàn thành lập chúng tăng hầu hết phần đông là căn cơ trình độ giáo pháp cao siêu là những bậc thánh A la hán, thành phần tu tập đoạn dứt lậu hoặc. Những vị căn cơ còn thấp kém chỉ nghe Đức Thế Tôn khai thị vài lần liền chứng ngộ. Vì thế nếp sống của chư Tăng thuở ấy hoàn toàn thanh tịnh. Tuy đức Thế Tôn chưa chế Giới luật nhưng Giới vẫn có, chỉ giới hạn được trình bày dưới dạng những hình thức đơn giản tổng quát về mặt hộ trì các căn.
Thế Tôn dạy : “Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, mũi ngửi hương, thân xúc chạm, ý duyên pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, cũng không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho các căn không được duyên theo, không bị sanh tâm tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp khởi lên, nếu có khởi lên Tỳ kheo liền chế ngự nguyên nhân ấy sống thực hành hộ trì các căn”.
Đức Thế Tôn thực hành qua giai đoạn thực hành Trung Đạo Đế, hành Bát chánh đạo dưới hình thức, Tỳ kheo nên giữ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Qua sự trình bày như trên chúng ta thấy Giới luật tuy có mà chưa rõ ràng.
Trong Kinh Văn Thù Sư Lîi vÊn quyển ba nói: Tôn giả Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, người tà kiến đời sau sẽ phỉ báng rằng, nếu Đức Như Lai là bậc nhất thiết trí tại sao phải chờ chúng tăng phạm tội rồi mới chế Giới ?”
Đức Phật dạy : “Nếu Ta chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội, sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này Văn Thù Sư Lợi như y sĩ biết là nguyên nhân tật bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.
Từ đó, dần dần về sau trong Giáo đoàn Tăng sanh các hữu lậu với mục đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì uy tín của Tăng đoàn.
Giới luật được Đức Thế Tôn chế vào khoảng năm thứ 13 sau khi Đức Phật thành đạo, nhưng tùy phạm tùy kiết, những Giới không nhất định phải chế Giới từ 3 - 4 lần mới thành một Giới. Đây là một trường hợp điển hình nói lên tính linh động và tầm mở rộng của Giới Luật. Trường hợp khác điển hình giới dâm, phải trải qua ba giai đoạn mới thành:
- Giai đọan thứ nhất : Tôn Giả Tu Đề Na con trai của thôn trưởng Ca Lan Đa, do sự yêu cầu của người mẹ phải để lại đứa con trai để nối dõi tông đường, nên Tôn giả đã hành dâm với người vợ cũ. Sau sự việc xảy ra Tôn Giả bị lương tâm cắn rứt, cảm thấy hổ thẹn với những Tỳ kheo thanh tịnh nên thú nhận tội với chư  Tăng, chư Tăng bạch Phật, Phật quở trách rồi chế giới: “Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được ở chung”.
- Giai đoạn thứ hai : Một Tỳ kheo chán nản đời sống phạm hạnh, về nhà hành dâm với vợ cũ. Vì trong Giới Phật chế không cho trường hợp chán nản đời sống phạm hạnh. Do đó, Thế Tôn chế thêm “Tỳ kheo nào đã trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo, chưa hoàn giới sút kém nhưng không phát lồ, hành dâm dục Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
- Giai đoạn thứ ba : Một Tỳ kheo sống trong rừng, bị thiên ma nhiễu loạn, nên đã hành dâm với con vượn cái. Nghĩ rằng Giới luật đức Thế Tôn dạy không có trường hợp cùng với loài súc sanh, thêm lần nữa Đức Thế Tôn bổ túc thêm Giới trên cho đầy đủ “Tỳ kheo nào đã thọ trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo chưa hoàn giới, giới sút kém những không phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
Như thế cho chúng ta nhận xét Giới luật đức Thế Tôn chế tùy theo hoàn cảnh đệ tử vi phạm mà chế thành Giới. Sau đó, đức Thế Tôn nói rõ lý do Giới được thiết lập :
+ Để Tăng chúng được cực thịnh.
+ Để Tăng chúng sống được an ổn.
+ Để kềm chế các Tỳ kheo khó kềm chế.
+ Để các Tỳ kheo sống tâm được an ổn.
+ Để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại.
+ Để chặn đứng các lậu hoặc trong tương lai.
+ Để đem lại tịnh tín tăng cho những người không tin.
+ Để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin.
+ Để diệu pháp được tồn tại.
+ Để giới luật được chấp nhận.
Khi Đức Thế Tôn mới nhập diệt những vị Thánh tăng do thấu triệt chơn lý nên bình tĩnh đón nhận sự biệt ly ấy, những vị hữu học thì khóc lóc, đấm ngực kêu la … Nhưng cũng có những vị Tỳ kheo do không phải hảo tâm xuất gia và đã lớn tuổi như ông Sudhadda sung sướng reo mừng mà nói: “Chúng ta đã giải thoát hoàn toàn vị đại sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền não nhiều, quấy rầy những lời! Làm thế này không hợp với các ngươi, làm như thế kia không hợp với đạo, nay chúng ta muốn gì chúng ta làm”.
Thật vô cùng cảm thương khi nghe những lời ấy. Sau khi làm lễ trà Tỳ nhục thể đức Thế Tôn xong, Trưởng lão Ca Diếp triệu tập 500 vị A la hán tại hang Thất Điệp để kiết tập Kinh Luật. Trong hội nghị ấy, Tôn giả Ca Diếp làm chủ tọa, Tôn giả A nan trùng tuyên Kinh Tạng, Tôn giả Ưu Ba Ly tuyên đọc luật hơn 80 lần. Đến hơn 100 năm sau Trưởng Lão Da Xá đến Phệ Xà Ly thấy nhóm Bạt Kỳ xướng 10 điều phi pháp, lo sợ Phật pháp sẽ suy tàn, Trưởng Lão hội họp các vị tôn túc để chấn chỉnh lại Giới Luật, đây là lần thứ hai kiết tập Kinh Luật.
Đức Thế Tôn thị hiện trên cõi đời vị mục đích giải thoát chúng sanh ra khỏi dòng sanh tử, nên Giới luật của Ngài không có tính cách cưỡng chế, bó buộc mà hoàn toàn vì an lạc của chúng đệ tử. Chính nhờ những Giới pháp đó mà Đức Thế Tôn đã tu hành đạt thành Chánh giác và đem sự sáng suốt truyền lại cho chúng sanh coi như Giới thân Huệ mạng của chính mình. Bởi thế trước khi nhập Niết Bàn, đức Thế Tôn đã ân cần Di giáo: “Sau khi ta diệt độ, các ngươi phải tôn trọng giữ gìn Ba-la-đề-mộc-xoa, như người nghèo gặp được của báu, như qua sông đặng ghe, như người bệnh gặp thầy thuốc v.v… phải biết pháp này là Thầy của các ngươi, dù ta có trụ thế cũng không ngoài pháp gì khác”.
Như chúng ta nhận xét qua lời giải trong các kinh Đức Thế Tôn giảng dạy xong lại nói rằng : “Tất cả pháp ta nói ra chỉ là phương tiện khi tu hành xong hãy buông bỏ”. Còn đang thời tu hành dù hành giả tu pháp nào đi nữa phải lấy Giới luật làm đầu để giữ gìn phạm hạnh. Nếu hành giả đang thời hành đạo Giới thể đã mất, thời Giới thân Huệ mạng cũng không còn.
2. ĐỊNH NGHĨA GIỚI LUẬT
Giới học : Giới tiếng Phạn là SiLa, phiên âm thành Thi La. Trung Hoa dịch là Thanh Lương (mát mẻ). Do công năng hành giả giữ gìn Giới nên ngăn ngừa ba nghiệp bất thiện của thân, khẩu, ý.
Giới còn gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa phiên âm từ tiếng Phạn Pàtimokha có nghĩa là hướng đến. Nghĩa bóng là hành giả cần nương về nội tâm tu hành tìm ra con đường giải thoát. Giải thoát có hai nghĩa: Biệt giải thoát và Biệt biệt giải thoát.   
Luật theo tiếng Phạn là Vinàya phiên âm là Tỳ Nại Da. Trung Hoa dịch là điều phục, có hai nghĩa : nghĩa đen là “khử” là “chân”, nghĩa bóng là loại bỏ bao nhiêu các việc xấu quấy để giữ lại cho cái chơn, cho nên gọi là hàng phục tâm. Chấm dứt tâm vọng động, đừng cho tâm phát khởi, nên gọi là chân tâm. Như hàng phục giới liền sanh trí huệ.
Luật cũng dịch là Thiện Trị vì hành giả khéo chế ngự các hạnh bất thiện của mình, còn điều phục hết thảy bất thiện hạnh cho chúng sanh. Như vậy Giới luật còn nghĩa rộng là hòa hợp chúng, sống trong đoàn thể thanh tịnh tăng luôn biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Cũng là nền tảng muôn pháp lành, điều phục nghiệp xấu ác của thân khẩu ý, đoạn trừ phiền não của tham, sân, si. Nhờ Giới học mà hành giả tu hành đạt quả Tịch diệt Niết Bàn.
Giới Luật : dựa trên công dụng mà có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nghĩa chính của Giới Luật là phân định phán đoán của các tội khinh, trọng, khai, giá, trì phạm để ngăn ngừa những tội lỗi của thân tâm. Bởi thế mới nói Giới luật của đức Thế Tôn chế ra chỉ là “Tùy phạm tùy kiết”. Nghĩa là có người gian gốc độ khác nhau mà hành trì. Hơn nữa, ranh giới giữa người vi phạm và người tuân thủ  pháp luật cách nhau chỉ một niệm đúng sai, vậy cần phải có chuẩn mực để phân định rõ ràng. Cũng thế, trong Đoàn thể tu hành Phật giáo cũng cần phải sử dụng đến Giới luật để phân minh, khinh, trọng tùy theo hành giả vi phạm lỗi lầm, nên thỉnh Thế Tôn Kiết Giới.
3. NỘI DUNG CỦA GIỚI LUẬT
Trong khế Kinh, §ức Phật dạy : “Dục đắc lợi tha, tiện tu tự lợi” nghĩa là muốn làm cho người khác lợi lạc thì chính mình trước nhất phải lợi lạc. Cho nên, Tổ Quy Sơn dạy: “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương,  tâm hình dị tục thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo Tứ ân, bạt tế Tam hữu …”
Như thế đủ thấy, một người xuất gia đâu phải chuyện tầm thường, mà mang trong mình một trọng trách nặng nề, là khuôn mẫu của nhơn thiên, nếu không lấy giới luật làm trang nghiêm thì có xứng đáng là một vị xuất gia không? Song, Giới luật là bước đầu tiên làm nền tảng để đạt được mục đích mĩ mãn nếu không có “Chỉ trì Giới và Tác trì Giới” thì làm sao đạt được lý tưởng của một vị Tỳ kheo.
3.1. Tỳ khưu giới
Giới Tỳ kheo có thể được gọi là Giới Cụ Túc. Là vì giới ấy thể hiện trọn vẹn đời sống mẫu mực của một thánh quả A la hán. Cho nên, Giới Cụ túc của Tỳ kheo là 250 giới và Tỳ kheo ni 348 giới. Điều này được ghi rõ trong Giới bổn Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, như vậy danh mục của giới bổn Pàtimokha được chia như sau :
3.1.1. Pháp Ba La Di (Parajika)
Dịch là khí, nghĩa là bỏ hẳn ra ngoài thánh chúng, không được cùng chúng thuyết Giới, Yết ma, Bố tát, Tự tứ  v.v… tất cả công đức đều bị quăng bỏ. Cũng dịch là vô dư nghĩa là không có pháp gì chữa trị. Vi phạm Giới này không có chỗ sám hối cũng dịch là Cực Ác, nghĩa là không có pháp nào nặng hơn pháp này, lại còn có nghĩa lui sụt : phạm Giới này đạo quả không có phần, không được ở chung; Đọa lạc : sau khi xả thân chịu đọa lạc. Cũng dịch là Tha Thắng vì khi phạm Giới này thì tất cả mọi người đều khi rẻ. Hơn nữa, người xuất gia là đoạn trừ phiền não, hàng phục ma quân, nhưng lại bị ma quân hàng phục, làm mất đi sự tôn trọng, tôn kính trước kia. Như vậy, Ta La bị chặt đầu không tái sanh nên gọi là Đoạn đầu, hoặc ví như cây kim bị sứt lỗ không còn dùng được, hay tảng đá bị bể làm hai. Cũng vậy, người phạm giới này mất đi phẩm hạnh Tỳ kheo nên dịch là Hạt giống cháy, nghĩa là khi gieo hạt giống xuống ruộng tốt, siêng năng tuới bón, mà không sanh được mầm. Cũng dịch là Tự Đọa phụ xứ, nghĩa là tự mình sa vào chỗ không vừa ý. Thiên này Tỳ kheo có 4 và Tỳ kheo ni có 8 :
3.1.2. Pháp Tăng già bà thi sa (Sanghàvaseva)
Tăng Già Bà Thi Sa dịch là Tăng Tàn, loại này Tỳ kheo có 13 và Tỳ kheo ni có 17.
Trong 13 pháp của Tỳ kheo, thì 9 Giới đầu vừa làm vừa phạm, 4 Giới sau ba phen can giám không bỏ mới phạm. Tỳ kheo phạm mỗi pháp, biết mà che dấu phải cho hành biệt trụ, che giấu mấy ngày là biệt trụ mấy ngày, và sau đó cho hành sáu đêm Ma-na-đỏa và khi ấy mới xuất tội, phải đủ túc số 20 Tăng.
Trong 17 pháp của Tỳ kheo Ni, 9 Giới trước thì vừa làm vừa phạm, 8 Giới sau ba phen can giám không bỏ mới phạm mỗi pháp, biết mà che giấu phải cho hành biệt trú, vì bản chất yếu sau đó mới xuất tội. Phải trong 2 bộ đại tăng đủ túc số 40 người (20 Tỳ Kheo và 20 Tỳ Kheo ni)
3.1.3. Pháp bất định (Anivaka)
Tỳ kheo có 2, Tỳ kheo ni không có. Đây là hai trường hợp phạm Giới của một Tỳ kheo do một cư sĩ trụ tín chứng từ sơ quả đến đệ tam quả, báo cho tăng chúng biết, bấy giờ Tăng gì hợp lại để định tội vị Tỳ kheo ấy, do chưa quyết định được tội gì cho nên phải đưa ra sự việc ấy giữa Tăng để định tội, cho nên gọi là Pháp Bất Định.
3.1.4. Pháp Ni tát kỳ ba dật đề (Nissgiỳa Pàcittya)
Ni tát kỳ ba dật đề dịch là Xả Đọa, ở đây Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều có 30 pháp. Phần lớn pháp này liên quan đến các đồ dùng cần thiết như áo, tiền bạc để mua sắm bình bát, dược phẩm trị bệnh, v.v… mà một số vị chỉ có thể giữ trong một số ngày nhất định. Nếu vi phạm giới này, vị ấy phải ra trước Tăng để xả bỏ các vật dụng trên và sau đó phải thành tâm sám hối, nếu không vị ấy sẽ phạm tội đọa.
3.1.5. Pháp Ba dật đề (Pàcittya)
Ba dật đề dịch là Đọa, ở loại này Tỳ kheo có 90 pháp, Tỳ kheo ni có 178 pháp. Đây là loại Giới có liên quan đến cách nói năng, tiếp xúc đối xử với các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thái độ vào nhà cư sĩ, cách xử sự đối với người ngoài và một số điều sinh hoạt thường ngày như ăn uống, ngủ nghỉ v.v… Nếu vị nào phạm Giới này cần phải sám hối trước Tăng chúng, nếu không sám hối thì bị phạm tội đọa.
3.1.6. Pháp Ba la đề đề xá ni (Patidesaniya)
Loại này Tỳ kheo có 4, Tỳ kheo ni có 8. Ba La Đề Xá Ni dịch là hướng bỉ hối, theo cảnh mà đối trị lập tên. Nếu vị nào phạm Giới này thì phải đến riêng trước vị Tỳ kheo khác mà sám hối, không được để lâu. Tội này khác hơn các tội khác là vì ở đây chỉ mong cầu lòng tham ăn uống, làm hư hoại lòng tin của người khác.
3.1.7. Pháp chúng học (Sekhiyà Dhamma)
Chúng học là dịch từ Sekhiỳa, nguyên nghĩa là huấn luyện, học tập. Đây là những pháp học mà vị Tỳ kheo phải học tập và thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Đó là những điều khoản đi đứng, nằm ngồi, ăn uống v.v… Sự thể hiện tác phong đạo đức của một vị Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh. Tuy nhiên, các Giới điều này không mấy quan trọng nếu vi phạm Giới này thì chỉ bị xem là những hành vi sai quấy nhỏ nhặt, nhưng vì bao gồm trong sự sinh hoạt hàng ngày của Tỳ kheo nên đức Phật phải quyết định đưa ra Giới bổn. Nếu vô tình vi phạm phải tự sám hối, nếu cố ý phạm phải đến trước Tỳ kheo trong cùng một trú xứ mà sám hối cho ba nghiệp thanh tịnh. Loại này Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều có 100 pháp.
3.1.8. Pháp diệt tránh (Adbikarana Samathà)
Từ Adbikarana có nghĩa là tố tụng, tranh cãi, kiện thưa. Từ  Samathà có nghĩa là sự im lặng, ngưng bặt. Pháp diệt tránh này mang tính chất luận, đây là những nguyên tắc để giải quyết sự bất đồng, tranh luận trong Tăng đoàn.
3.2. Bảy Tụ
- Tụ Ba La Di : đứng về tên giới gọi là Thiên, đứng về bên tội thì gọi là tụ. Tỳ kheo nào mà phạm vào mỗi giới trong Ba La Di kết tội thuộc về tội Ba La Di.
- Tụ Tăng Già Bà Thi Sa : Tỳ kheo nào phạm vào mỗi giới trong thiên Tăng già bà thi sa thì kết tội Tăng già bà thi sa.
- Tụ thâu lan giá : là phương tiện tội (tức là nhân tội) của Ba la di và Tăng Tàn.
- Tụ ba dật đề : Tỳ kheo nào phạm vào mỗi pháp trong thiên Ba dật đề, kết tội thuộc tụ Ba dật đề.
- Tụ ba la đề đề xá ni : Phạm mỗi pháp trong thiên Ba đề đề xá ni.
- Tụ ác tác : Phạm mỗi pháp trong một 100 pháp chúng học, kết tội Đột kiết la, nhưng đứng về thân nghiệp tạo tác thì kết tội thuộc Ác tác (tội nhẹ thuộc về thân).
- Tụ ác thuyết : đứng về khẩu nghiệp (tội nhẹ thuộc về khẩu). Riêng Tỳ kheo ni đức Phật truyền thêm Bát Kỉnh Pháp :
+ Tỳ kheo ni dù 100 tuổi khi thấy Tỳ kheo dù mới thọ giới phải đứng dậy chào đón, lễ bái, thỉnh ngồi.
+ Không được mắng Tỳ kheo.
+ Không được nêu tội Tỳ kheo, không được tác pháp ức niệm, tự ngôn tự đối với Tỳ kheo, không được ngăn Tỳ kheo xét tội, ngăn thuyết giới, ngăn Tự tứ và nói lỗi của Tỳ kheo, nhưng Tỳ kheo được nói lỗi của Tỳ kheo ni.
+ Phải thỉnh Tỳ kheo cầu thọ Cụ túc giới.
+ Nếu phạm Tăng Tàn, phải ở giữa hai bộ đại Tăng nữa thánh hành ý hỷ.
+ Nửa tháng phải đến Tỳ kheo Tăng cầu thỉnh giáo thọ.
+ Không được Kiết hạ an cư ở chỗ không có Tỳ kheo.
+ Sau khi An cư phải đến giữa Tỳ kheo cầu ba việc Tự tứ là thấy, nghe, nghi (KiÕn, v¨n, nghi).
3.3. Bảy pháp Diệt tránh
Đây là bảy việc nhằm dứt bốn sự tránh trong Tăng chúng. Mặc dù các nguyên tắc sống chung đặt trên nền tảng hòa hợp, nhưng trong đời sống cộng đồng không sao tránh khỏi những xáo trộn, phiền toái xảy ra mà thuật ngữ và Luật tạng gọi là Tránh Sự.
Qua đó, đức Phật phân loại một cách hệ thống do các đệ tử tranh chấp. Phân loại này có bốn, gọi là bốn Tránh sự.
- Ngôn tránh : Sự tranh chấp xảy ra do tranh luận, cãi nhau về một vấn đề thông thường, các Tỳ kheo hay tranh cãi về mười tám việc đó là: Pháp phi pháp, luật phi luật, phạm phi phạm, trọng khinh, hữu tàn vô tàn, thô ác phi thô ác, thường hành phi thường hành, chế phi chế, thuyết phi thuyết.
- Mích tránh : Sự tranh chấp do tìm tòi, nói chính xác hơn là vạch đường tìm lối, căn cứ trên những sự kiện vụn vặt để quy thành chuyện lớn. Tránh sự này do bởi một vị Tỳ kheo khác không nhất thiết và vu khống (vì ác ý) nhưng cũng không đúng hẳn sự thật hoàn toàn (vì thiện ý, nhưng nhận định sai dữ kiện).
- Phạm tránh : Tránh sự do phạm tội. Tội ở đây chỉ sự vi phạm các học xứ trong giới bổn. Trong đó, trừ tội phạm Ba la di không thể sám hối, còn lại tùy theo nặng nhẹ mà Tăng xử trị. Giả sử có Tỳ kheo nào bao che tội lỗi của vị ấy, cũng là một vi phạm cần xử trị. Như vậy, tránh sự này không có nghĩa là tranh chấp, đơn giản đó là sự việc không tốt đẹp đã xảy ra, cần dập tắt để duy trì sinh mạng thanh tịnh của Tăng.
- Sự tránh : Sự ở đây chỉ các tăng sự, bao gồm nhiều lĩnh vực, hoặc liên hệ cá nhân như truyền giới sám hối, hoặc liên hệ cụ thể như Bố tát, Tự tứ … Nghĩa vụ hay phân sự (tăng sự) nào được Tăng thực hiện không như pháp, đều trở thành tránh sự, đều phải đem ra thảo luận và giải quyết.
Vì vậy trong đời sống cộng đồng nếu có tránh sự khởi lên cần phải giải quyết để duy trì đời sống thanh tịnh và hòa hợp. Do đó, Thất Diệt tránh pháp được xem là những phương pháp để dập tắt các cuộc tranh chấp, đưa tới được hóa giải được trình bày như sau :
* Hiện tiền Tỳ ni (Sammukha Vinaya) : Theo nguyên tắc này, tất cả những phát biểu về cuộc tranh chấp phải được nói ra trong đại chúng với sự có mặt của hai phía tranh chấp, tránh tất cả những sự phát biểu và bàn bạc riêng tư. Những phát biểu thường có tác dụng gây thêm sứt mẻ và hận thù.
* Ức niệm Tỳ ni (Sati Vinaya) : Ức niệm tức là nhớ lại trong buổi họp mặt sự hiện diện của cả hai phía tranh chấp. Các đương sự phải hồi tưởng lại những gì đã thực sự xảy ra và tuần tự trình bày tất cả những điều đó theo trí nhớ của mình, với tất cả những chi tiết và nếu có thể thì đưa ra những bằng chứng chính xác. Đại chúng sẽ im lặng lắng nghe cả hai bên để có mọi dữ kiện mà thẩm sát vấn đề.
* Bất si Tỳ ni (Amudha Vinaya) : Bất si có nghĩa là không cứng đầu, không ngu dốt, chỉ vì tâm trí không bình thường. Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của cả hai phía tranh chấp, đại chúng trông chờ các đương sự bày tỏ thiện chí hòa giải của mình với tất cả khả năng của mình. Thái độ ngoan cố được xem là một điểm tiêu cực căn bản. Trong từng trường hợp đương sự nêu lên lý do là vì mình lúc đó tâm trí bất thường, cho nên đã vô tình phạm vào quy luật thì đại chúng phải nương vào đó để giảm luật án cho đẹp lòng đôi bên.
* Tự ngôn Tỳ ni (Tatsvabhaisya Vinaya) : Tự ngôn là tự mình nói ra, tự mình công nhận sự vô ý, sự vụng về hoặc sự yếu đuối của mình, không cần sự hạch hỏi của đối phương hay của đại chúng. Đại chúng trong đó đôi bên nói ra những nhược điểm của mình, dù là những nhược điểm nhỏ nhặt. Tự nhận lỗi mình tức là khởi sự cho cuộc sống xuống kỳ tranh chấp. Điều này sẽ khuyến khích đối phương cũng làm như vậy để cuối cùng thiện chí của hai bên sẽ đủ sức đưa đến hòa giải cho nhau.
* Đa ngữ Tỳ ni (Pratijnakaraka Vinaya) : Đa ngữ là lấy biểu quyết bằng đa số. Sau khi đã nghe hết tất cả hai bên đã được chứng kiến nổ lực và thiện chí của hai bên, đại chúng sẽ biểu quyết bằng cách đầu phiếu, mà thuật ngữ gọi là Hành xà la hay Hành Trù. Thể thức đầu phiếu có ba : Một là hiển lộ, tức là bỏ phiếu công khai. Hai là phú tàng, tức là bỏ phiếu kín. Ba là nhĩ ngữ, tức là rỉ tai.
Thể thức đầu phiếu hoàn toàn do người chủ trì Hành xà la điều động theo quan điểm riêng của mình.
* Tội xứ sở Tỳ ni (Yadhuyasikiya Vinaya) : Đây là án lệnh tối hậu về tội tướng và cách thức hối cải được đưa ra đại chúng để quyết định bằng phương pháp bạch tứ yết ma, nghĩa là một tuyên cáo rồi hỏi lại ba lần, nếu trong ba lần này mà tất cả đều im lặng không ai lên tiếng phản đối thì bản án lệnh có hiệu lực. Tất nhiên là các đương sự chỉ có thể tuân hành chứ không có quyền phản đối, bởi vì cả hai bên lúc đầu đã phát nguyện tin tưởng vào phán quyết của đại chúng.
* Thảo phú địa Tỳ ni (Tonastaraka Vinaya) : Thảo phú địa là rơm cỏ phủ lên đất sình lầy. Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của hai bên tranh chấp, hai vị Trưởng lão đức độ được chỉ định để bảo trợ cho hai phía. Các vị này thường được đại chúng tôn kính và nghe lời. Các Ngài ngồi chăm chú nghe, rất ít nói nhưng khi nói thì ảnh hưởng rất lớn. Tiếng nói của các vị trưởng lão này nhằm hàn gắn những vết thương, kêu gọi thiện chí, hòa giải và tha thứ cũng như phủ rơm lên mặt đất sình lầy để cho mọi người bước lên mà không bị lấm chân. Điều này chỉ thấy rằng, cả hai phía đều không đáng kể mất đi sự gay go và đại chúng sẽ đi đến một án lệnh nhẹ nhàng làm vơi dịu mát lòng cả hai bên, sau đó cũng không ai nhắc lại chuyện cũ nữa.
Qua đó, ta có một nhận định rằng, bảy pháp Diệt tránh nằm trong bổn Giới, vì đó cũng là một quy định. Quy định này nêu các nghĩa vụ mà Tỳ kheo phải Tác trì. Một là nghĩa vụ đối với bản thân, khi tránh sự phát khởi với chính mình thì phải diệt trừ đúng lúc theo pháp Diệt tránh đã định. Hai là nghĩa vụ đối với chúng Tăng khi có sự tránh khởi lên nơi một vị Tỳ kheo khác, sinh mạng một phần của Tăng bị khuyết. Do đó, Tỳ kheo nào biết rõ như vậy phải áp dụng pháp Diệt tránh để diệt trừ. Với mục đích phục hồi nguyên thể thanh tịnh và hòa hợp của Tăng như vậy. Thất Diệt Tránh Pháp nêu lên được nghĩa của tác trì và cá nhân mỗi Tỳ kheo không nổ lực tu tập thánh đạo phải ý thức rằng nghĩa vụ tác trì của mình bằng tinh thần tự giác, giác tha viên mãn.
3.4  Mười có Nghĩa
Giới luật của đức Phật chế ra đều có đủ mười cú nghĩa để cho thấy tính quan trọng của Giới pháp.
- Nhiếp Thủ Ư Tăng : Giới luật Phật chế là giành cho Tăng thọ trì. Nếu người ở chùa lâu mà không thọ trì Giới pháp thì cũng không gọi là Tăng. Do lấy Giới luật trang nghiêm khiến cư sĩ sanh ngưỡng mộ thâm tín Phật pháp, xuất gia thọ Giới.
- Linh Tăng hoan hỷ : Nhờ Giới luật mà chúng Tăng hành trì nghiêm túc, có Giới hạnh oai nghi, sống đời sống thanh tịnh, chính điều này làm Tăng hoan hỷ.
- Linh Tăng an ổn : Khi chúng Tăng có Giới pháp làm kềm chế sự lộng hành sai trái của mỗi người, do đó không ai làm phiền ai cả.
- Linh vị tín giả tín : Vị Tăng có Giới pháp gây niềm tin Tam Bảo cho những người chưa có niềm tin.
- Dĩ tín giả linh tăng trưởng : Vị Tăng có Giới pháp làm cho người có niềm tin tăng trưởng.
- Nan điều giả linh điều : Điều phục những người có tánh ương ngạnh, căn cứ vào Giới luật mà chữa trị.
- Tàm quý giả đắc an lạc : làm cho người tàm quý được an lạc.
- Đoạn hiện tại hữu lậu : ngăn trừ được những điều hữu lậu lo âu phiền muộn, sợ hãi đang phát sanh trong hiện tại.
- Đoạn vị lai hữu lậu : ngăn chặn đề phòng những lậu hoặc và phiền não bất Thiện pháp trong đời vị lai không cho phát sanh.
- Linh chánh pháp cửu trụ : làm cho Chánh pháp trường tồn.
Qua đó, Ngài Thái Hư tóm tắt thành ba điều :
- Tri liệt tính để thành thánh đức : Mọi người vốn có tánh đức cao thượng, nhưng vì bị những thứ tánh chấp, tâm tính tầm thường, hèn mọn che lấp không phát hiện ra, chỉ  khi nào hành trì Giới pháp thì mới thay đổi, từ đó thành tựu được đức tánh cao thượng.
- Điều tiểu kỷ để thành đại quần : Mọi người đều có cái ta riêng hẹp hòi ích kỷ. Khi hành trì Giới pháp, nó điều hòa cái ta nhỏ bé thành cái ta chung, lấy đại chúng làm ta, cùng mục đích giải thoát và độ sanh.
- Khiến chánh pháp trường tồn : người có trang nghiêm Giới luật mới có khả năng hoằng dương Đạo pháp.
3.5. Ph¸p YÕt ma
Yết ma là gì?  Yết ma (Karma) dịch là nghiệp, có nghĩa là “tác pháp biện sự”. Công việc xử lý trong Tăng đoàn đều lấy lợi ích tập thể làm tiêu chuẩn, trên phương thức xử lý cũng đặc biệt tôn trọng ý kiến của chúng Tăng. Mỗi hội nghị xử kiện đều lấy ý kiến của chúng Tăng và tôn trọng biện pháp chủ trương của Trưởng lão để thống nhất các sự việc.
Song trong phạm vị Tăng già, thành phần chủ yếu là Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Yếu tố xác định tư cách không chỉ là chức năng mà còn là bản chất, vì thế sự thanh tịnh và tác thành của mỗi thành viên trong Tăng già Phật giáo đều dựa trên căn bản của các pháp yết ma. Theo cuốn “Yết ma yếu chỉ” của Hòa Thượng Thích Trí Thủ phân chia thì tổng quát có ba loại:
- Tâm niệm Yết ma : Là tự mình nghĩ và nói lên lời, không cần phải có người thứ hai nghe như tâm niệm bố tát, tâm niệm tự tứ, v.v…
- Đối thú Yết ma : Là sự tác pháp giữa hai hay ba người, một người nói, một hoặc hai người nghe. Trong thực chất cả hai loại trên không phải là yết ma, nhưng chỉ do sự tác pháp tuân hành theo những quy định của Tăng, duy trì có điều là không hội đủ túc số Tăng để thành Tăng pháp nên cũng được xem là một pháp Yết ma.
- Tăng Yết ma : có ba loại :
+ Đơn bạch : chỉ có một lần tác bạch giữa chúng Tăng, tức thì Tăng pháp được thành tựu.
+ Bạch nhị :  lần bạch, một lần yết ma thì Tăng sự được thành tựu.
+ Bạch tứ : một lần bạch ba lần yết ma thì việc tác pháp mới thành tựu.
Theo thống kê tổng quát của yết ma thì có 48 pháp đơn bạch yết ma. Thường các Tăng sự trong 48 pháp này vốn đơn giản, chỉ cần một lần tác bạch là đủ.
Có 78 pháp Bạch nhị yết ma, các sự này có tầm quan trọng hơn loại trên, vì vậy, sau khi tác bạch xong cần phải có sự biểu quyết một lần của Tăng.
Có 39 pháp Bạch tứ yết ma, tức là một lần bạch, ba lần biểu quyết. Đây là trường hợp của những Tăng sự quan trọng nhất. Tăng sự chỉ thành tựu sau một lần tác bạch và ba lần biểu quyết thuận.
Tóm lại : Tăng già Yết ma là hành sự của Tăng căn cứ trên nền tảng là sự thanh tịnh và hòa hợp, gồm những nguyên tắc đòi hỏi phải tuyệt đối tuân theo.
4. t¸c dông cña giíi luËt
Đặc tính của Giới là đem sự an vui hạnh phúc cho mình và cho người, điều hòa được sinh hoạt tập thể của Tăng già, tạo niềm tin cho kẻ khác, đem lại lợi ích an lạc giải thoát cho tự thân người hành trì Giới luật. Vì thế, đề cập đến lợi ích của Giới, cho nên đức Phật dạy rằng : có 5 điều lợi ích cho những ai giữ Giới và sống đúng theo Giới luật ấy là :
- Những người giữ Giới sống theo Giới luật sẽ có tiền của, tài sản rất nhiều vì sống không phóng dật.
- Người giữ giới sống theo Giới luật được tiếng tốt đồn xa.
- Người giữ giới sống theo Giới luật, khi đi vào các hội chúng nào người ấy đi vào với tâm không sợ hãi, không bối rối.
- Người giữ giới sống theo Giới luật, sau khi chết tâm hồn vị ấy không rối loạn.
- Nguời giữ giới sống theo Giới luật, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú Thiên giới.
Qua lời dạy của đức Phật, chúng ta thấy lợi ích của Giới luật vô cùng lớn lao đối với những ai hành trì nó. Là một Tu sĩ chúng ta không thể thiếu Giới, vì một người thiếu Giới hạnh thì không thể nào làm cho chư Thiên hoan hỷ được, mà còn trở thành kẻ ngoan cố đối với các bạn đồng phạm hạnh. Người ấy đau khổ khi phạm Giới, vì bị chỉ trích và hối hận khi thấy người giữ giới tán dương. Người ấy vô giá trị vì không đem lại quả báo tốt đẹp cho các thí chủ. Người khó làm cho sạch như thùng phân dơ lâu năm, như một khúc gỗ mục trên giàn lửa. Vì không phải người xuất gia cũng không phải cư sĩ mặc dù tự xưng là Tỳ kheo mà không phải là Tỳ kheo, cũng giống như con lừa đi theo bầy bò. Người ấy luôn luôn nóng nảy nhìn tất cả mọi người như kẻ thù của mình, dù người ấy có thể là học rộng hiểu biết nhiều nhưng người ấy không đáng được các bậc đồng phạm hạnh cung kính.
Cho nên, trong kinh Phạm Võng đã dạy: “Nếu Phật tử có tín tâm xuất gia thọ trì Tịnh giới của Phật, mà lại cố ý hủy phạm Giới mình đã thọ thì người đó không được thọ sự cúng dường của đàn việt, cũng không được phép đi trên đất của quốc vương, không được uống nước của quốc vương, đi đâu cũng bị năm ngàn đại quỷ chặn ngăn trước mặt, quỷ nói với nahu rằng “đây là đại tặc”. Nếu vào phòng xá thành ấp nào thì bị quỷ chà quét dấu chân của người đó, tất cả mọi người đều mắng rằng “Ngươi là giặc trong Phật pháp”. Tất cả chúng sanh không muốn nhìn thấy. Người phạm Giới không khác gì súc sinh, không khác gì khúc gỗ”.
Tóm lại:
Giới luật của Phật chính là phương tiện để cho mỗi cá nhân tu tập đạt được lợi ích an lạc. Giới luật cũng là một cái thước đo tiêu chuẩn về mặt hình thức của một con người, về sự tiến bộ của tâm linh của hành giả tu tập giáo lý giải thoát. Mọi lý luận đều không có giá trị đối với người phạm giới, và mọi thành quả tốt đẹp sẽ đến với những ai thanh tịnh được Giới luật là một quy luật tất yếu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.19/1/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Wednesday, 15 January 2014

TET Mau Than 1968 (HD).wmv


Công An đàn áp Phật Giáo Hoà Hảo - Một cư sĩ PGHH rạch bụng phản đối chí...


CỘNG SẢN ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO Phần 3

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.15/1/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

CỘNG SẢN ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO Phần 2

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.15/1/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

CỘNG SẢN ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO Phần 1

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.15/1/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Saturday, 11 January 2014

 

10 minutes ago.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.11/1/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
Bạch Thư Ca Hòa Thượng Thích Tâm Châu : Đại Nn Ca Pht Giáo và đất Nước,
1966


Sang năm 1966, Đại Hi Giáo Hi li bt buc tôi phi làm Vin Trưởng thêm mt nhim k nữa. Giáo Hi e ngi các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng nhau, không th có cơ s vng vàng để xây dng đất nước được, Giáo Hi yêu cu Hi Đồng Lp Hiến. S yêu cu này được phát động khp các cp Giáo Hộị Nhưng ch trong vài tháng vic yêu cu bu c Quc Hi Lp Hiến đã được Chính Quyền các Tướng lãnh chấp nhận vào ngày 14-4-1966.
Sau khi phong trào bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được thỏa mãn, nhân danh Viện Trưởng, tôi đã gửi thư thông cáo ti các nơi biết : ngưng s tranh đấu, và ch đặt các chương trình xây dựng đạo pháp mà thôi.
Ngày 2 tháng 5 năm 1966 tôi đáp máy bay sang Colombo, thủ đô nước Tích Lan, cùng đại biểu Tăng Già các nước son tho Hiến Chương và thành lp Giáo Hi Tăng Già Thế Gii bt đầu t ngày 6-5-1966. và tôi đảm trách chc v Phó Ch Ti.ch.
T Tích Lan tr v, tôi ghé thăm Malaysia và Singapore để cm ơn s h tr tinh thn trong cuc tranh đấu 1963 va qua.
Vào 11 gi sáng ngày 29-5-1966, tôi v ti Saigon, được tin đang có biu tình trong thành phố Saigon và một số nơi khác ti min Trung. Tôi không hiu, khi tôi đi vng, ở nhà có Thượng Ta Trí Quang, Thượng Ta Thin Minh, do đâu li phát động li phong trào tranh đấu ?
Tôi v ti VN Quc T, bước chân vào ca văn phòng Viện Trưởng Vin Hóa Đạo ca tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi : "Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải theo quần chúng". Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư : Yêu cu các Thượng ta trong Vin Hóa Đạo, không được theo Thượng ta Tâm Châu".
Tôi định lên chánh đin VN Quc T l Pht, ti đây có my các v Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh đin VN Quc T và hăm da, ai mun vào chùa hãy bước qua xác chết ca ho..
Tôi vô cùng chán nn, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "Cm tôi không được hot động na". Và, người trong chùa cho biết là h hăm da s đốt xe, ám sát. Và, chính các v Tăng thanh niên đang t tp ti Nim Pht Đường Qung Đức (Bàn C) định sang chùa T Quang giết tôi. May có Sư Cô Vân biết được, cp báo cho tôi biết. Tôi trn thoát. (4)
T đó, tôi phi đi ngh, nay ti nhà này, mai ti nhà khác, nay ti Vin Nhu Đạo Quang Trung, mai ti Nha Tuyên Úy Pht Giáo.
T đó, VN Quc T b Tăng Ni và qun chúng theo CS nm gi, thao túng, liên tc ngày này qua ngày khác, ra đường Trn Quc Ton, ngã 6 Saigon - Chợ Lớn biểu tình, đả đảo và đốt hình nộm Tổng Thống Mỹ, Tướng Thiu, Tướng K. Tôi không dám ti và làm vic ti Việt Nam Quc T na.
Ti Huế, Đà Nng và vài nơi khác ti min Trung cũng vy, không sao vãn hồi được trật tư.. Lại thêm, sự xích mích giữa Tướng Nguyn Chánh Thi và các Tướng ti Saigon. Nhóm Lp Trường Huế ra đời, đòi hỏi bầu Quốc Hội, đòi hỏi ngưng chiến tranh.
Kết cuc, các Tướng Saigon mang quân ra vãn hồi trật tự miền Trung. Thượng Ta Trí Quang cùng nhóm tranh đấu ti Huế, kêu gi Pht t đem bàn th Pht ra đường, để ngăn cn bước tiến ca Quân Đội Chính Ph, cho các cán b CS nm vùng, trà trn tu thoát.
Phong trào mang bàn th Pht ra đường lan tràn khp nơi và vào c đến Saigon. Ti Saigon h đem nh Pht ra để trên đống rác.
Nhìn cảnh tượng y tôi cm thy đau lòng, liền ra một thông bạch yêu cầu Phật tử không nên đem Phật ra đường. Thượng Tọa Thiện Hoa Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đột nhiên ra một thông báo tán thành việc đem Phật ra đường. (5)
Tại Đà Nẵng cũng như mt s nơi khác, ngoài vic đem Pht ra đường, còn ghìm súng, nấp sau tượng Pht bn ra, khi quân đội tiến vào kim soát chùa.
Đem Pht ra đường ri, Thượng Ta Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau, chính phủ đưa Thượng Tọa Trí Quang vào Saigon, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Thượng Ta vn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuc dưỡng sc), cho đến khi chính ph quân nhân y li ha hi tháng 4-1966, bu c Quc Hi Lp Hiến vào ngày 3-9-1966.
Sau khi thanh toán s hn lon ti Huế và mt s tnh khác ti min Trung, thì tại Đô thành Saigon, chính phủ cũng thanh toán xong nhóm náo loạn tại VN Quốc T. Tòa Đô Chính Saigon chính thức viết thư xin lỗi Giáo Hội : "Vì nạn bất đắc dĩ phải thanh toán nhóm náo loạn tại Việt Nam Quốc Tự, chứ thực tâm, chính phủ không dám xâm phạm vào tôn giáo".
Tôi trở về làm việc tại Việt Nam Quốc Tự, nhưng mt s các v tranh đấu nht định không v. Các v cho rng, chính ph xúc phm đến tôn giáo và cho tôi là thân Chính Quyn. Ti min Trung, Thượng Ta Trí Quang cho tuyên truyn rng : "M mua đứt Tâm Châu vi 3 triu M kim và cho tôi là cu ca Tướng Nguyn Cao K, đem quân đội ra tàn sát Pht t min Trung v.v...".
Đó là ch ny sinh ra s mâu thun gia tôi và các v tranh đấu. T ch mâu thun y, ti Saigon, Thượng Ta Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khng cho tôi là người M cho tôi 1 triu M kim và tr lương cho tôi mi tháng là 20 ngàn M kim. Thc ra, tôi chưa được mt dollar ca M, ch nói chi đến vn, đến triệu. (6)
Tôi vn nhn ni làm vic, tuân theo li dy ca Hòa Thượng Tăng Thng Thích Tnh Khiết triu tp Đại Hi Giáo Hi ti Việt Nam Quc T t chiu 21-10-1966.
Bui chiu ngày 22-10-1966, Đại Hi mi duyt xét chương trình nghị sự xong.
Bất ngờ, 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Ta đã lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa làm Viện Trưởng, coi như lt đổ tôi. T đó có ra Vin Hóa Đạo Giáo Hi Pht Giáo Việt Nam Thng Nht ti n Quang.
Vy, đâu là ch chia đôi và lũng đon Giáo Hi Thng Nht ?
Sau đó, Vin Hóa Đạo n Quang chuyn hướng theo đường hướng "Hòa Bình Khuynh Tả". Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, phản đối chính sách chống Cộng của Việt Nam Cộng Hòa, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris.
Ấn Quang là một Phật Học Đường danh tiếng, cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo miền Nam rất nhiềụ Nhưng từ nửa năm 1966 trở đi, Ấn Quang đã bị cưỡng ép làm nơi tranh đấu ca các v ưa tranh đấu. Sang năm 1967, tôi triu tp 8 Giáo Phái, Hi Đoàn ti VN Quc T, tuyên b rút lui chc Vin Trưởng Vin Hóa Đạo Giáo Hi Pht Giáo Việt Nam Thng Nht. Đại Hi đề c Thượng Ta Thích Thin Tường (người Nam), lên thay thế tôi làm Vin Trưởng. Và, Đại Hi này nhn thy Hiến Chương Giáo Hi Pht Giáo VN Thng Nht đã bị chủ trương "nht thng", tiêu dit các Giáo Phái, Hi Đoàn, nên Đại Hi đã tu chính bản Hiến Chương y, cho phù hp vi các Giáo Phái, Hi Đoàn. Bn Hiến Chương tu chính này được thông báo cho chính ph ca Tng Thng Nguyn Văn Thiu biết. Tng Thng Nguyn Văn Thiu đã ký sắc luật 23/67 ngày 18/7/1967, công nhận Hiến Chương ấy.
Sau khi rút lui khi Vin Hóa Đạo, tôi tr ra chùa T Quang Vũng Tàu ca tôi, vui cùng cnh vt thiên nhiên, cho vơi bt nhng s ưu tư, vt v.
Ti Saigon, Giáo Hi Thng Nht n Quang li phát động phong trào tranh đấu, đòi hỏi không được tu chính Hiến Chương. (Thực vô lý, Ấn Quang chỉ có 3 Giáo Phái, Hội Đoàn, mặc dù Tăng Ni Phật tử đông. VN Quốc Tự có 8 Giáo Phái, Hội Đoàn - dù rằng người ít - vn có quyn tu chính Hiến Chương, ch không phi hy b Hiến chương).
Đùng mt cái, mt hôm vào khong 7 gi ti, mt s Tăng ti chùa n Quang, được s h tr ca các dân biu thân n Quang có súng, như Kiu Mng Thu v.v... đột nhp vào VN Quc T bt thượng Ta Vin Trưởng Vin Hóa Đạo Thích Thin Tường, cùng vi rt đông chư Tăng, đem v nht ti chùa n Quang. Ngày hôm sau, Nha Tuyên Úy Pht Giáo can thip, mi các v n Quang ra khi Việt Nam Quc Tư.. Sau đó, Giáo Hi Thng Nht ti VN Quc T li phi đề c Thượng Ta Thích Minh Thành (người Nam) lên làm Vin Trưởng.
Vn chưa yên. Li mt hôm khác, vào chp ti, phe n Quang li đem người, đem khí gii, tái chiếm VN Quc T mt ln na Ln này h bt hết Tăng chúng, ly hết đồ đạc, nhiu máy may ca VN Quc T và đốt cháy mt dãy nhà phía tay trái Quốc T. Nha Tuyên Úy Pht Giáo li phi can thip để vãn hồi trật tư..
Sau biến c này, Giáo Hi Thng Nht ti VN Quc T phi đề c Thượng Ta Thích Tâm Giác, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Pht Giáo, kiêm nhim Vin Trưởng Vin Hóa Đạo, mi yên.
Hai ln n Quang đánh phá VN Quc T như trên, hi ai làm nhơ nhp cho lch s Pht Giáo VN ?
S vic rõ ràng như thanh thiên bch nht, mà nhóm tranh đấu ca n Quang, được s h tr ngm ca CS nm vùng, li nhi vu khng cho VN Quc T chia r Giáo Hi, Thích Tâm Châu phá hoi và lũng đon Giáo Hi Pht Giáo VN Thng Nht. Thc như câu phương ngôn ca Việt Nam thường nói : "Va đánh trng va ăn cướp, va ăn cướp va la làng". Cy đông, ly tht đè người, mc sc vu khng, thao túng không coi nhân qu là chi c !
Cho đến ni nhng v Tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng Giáo Hội, cũng như các vị Tăng, Ni Phật - từ ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS nằm vùng trong suốt hơn 30 năm na Thc ti nghip !
Nói thng thn, cuc chiến tranh Quc Cng ti Việt Nam, không có mt tôn giáo, mt đoàn th nào, không b CS nm vùng gây chia r, phá hoại. Thiên Chúa Giáo có nhng cán b gc nm vùng như Vũ Ngc Nh, Hunh Văn Trng v.v... Pht Giáo cũng vy, CS nm vùng t thượng tng, ti h tng, càng d dàng hơn.
Thc s, cuc tranh đấu t tháng 6-1966, cho đến nay chia đôi Giáo Hi, đều do bàn tay CS đạo din, làm hi cho Pht Giáo và quc gia VN không nh. Vì vậy, Phật Giáo không phải là không có trách nhiệm, liên đới đến sự để mất VNCH cho CS. Vấn đề này, chính Hòa Thượng Thích Huyn Quang cũng thường nhc đi nhc li : CS tng tuyên b : "Pht Giáo n Quang hai ln có công vi Cách Mng".
* Vn đề hòa hợp hòa giải và các tạp sự sau đó
Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho CS, thì tại VN phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh. Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Ta Thin Minh và Huyn Quang. Vì hai Thượng Ta này không tán thành phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, nên Thượng Ta Trí Quang và phe nhóm ca Thượng Ta đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng Ta Thin Minh và Thượng Ta Huyn Quang mt cách tàn nhn. Cũng vi chiến dch này, trong sut mt năm, Giáo Hi Thng Nht n Quang không th triu tp được Đại Hi để bu c chc v Vin Trưởng Vin Hóa Đạo vì Thượng Ta Thích Thin Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Ta Thích Trí Th là mt v Tng V Trưởng phi đứng lên x lý thường vụ.
Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ VNCH. Những bộ mặt thân CS đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.
- Khi quân CS từ rừng về Saigon, đã có lần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chàọ
- Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.
- Hiệp Thương Chính Tr thng nht hai min Nam-Bc ca CS, mt Thượng Ta ca phe n Quang đã làm một bài tham luận, nịnh CS, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu.
- Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo VN tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gi là "Giáo Hi Quc Doanh", hay "Giáo Hi Nhà Nước". Ch có các Thượng Ta : Thin Minh, Huyn Quang, Đức Nhun, Qung Độ và mt s nh các v khác không tán thành, nên b bt hay b giết.
- Vào khong năm 1986, 1887, Ông Gorbachev, Tng Bí Thư Đảng CS Liên Xô ch trương ci m, thì tại VN ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng CSVN cũng theo chủ trương ấy. Sau đó, Chủ Nghĩa CS bị tan rã tại Nga, tại Đông Âu, thì tại VN, hình thức chuyển hướng là s cn thiết để sng còn của ho.. Họ đã cho các chùa được sinh hoạt tín ngưỡng một phần nào, trả một số cơ s cho các chùa, cho mt s thanh niên Tăng, Ni được hc hi Pht Pháp. Và, có th bước đầu thí nghim ca h, h cho mt s ngưi nào đó, đòi hỏi quyền tự do dân chủ, để tiện dịp nhận diện những người quyết tâm tranh đấu, để có thể triệt hạ sau nàỵ
Hòa Thượng Thích Đôn Hu đã khơi m ra phong trào Pht Giáo Thng Nht ti hi ngoi, và Hòa Thượng Thích Huyn Quang tiếp ni s nghip ấy.
Ti Hoa K cũng t chc thng nht rm r. Kết cuc có ra hai, ba Giáo Hi Thng Nht. Ti Âu Châu, có nhiu Giáo Phái hot động riêng bit. Nhưng có mt s chùa, có các v Tăng trung niên và thanh niên, kết hp thành Giáo Hi Thng Nht Âu Châụ Ti Úc, dân s VN tỵ nn vào khong 150 ngàn người, Giáo Hi Thng Nht Úc và Tân Tây Lan đã thành hình, với số Tăng, Ni ít ỏi, số chùa độ trên mươi ngôi, s Pht t ti các chùa, tính chung li vào khong 7, 8 ngàn người. Ni b Giáo Hi thì không ổn định và có vẻ phức tạp.
Hòa Thượng Thích Huyn Quang ti VN, đang là người tri lên, đòi lại danh xưng và s phc hot ca Giáo Hi Pht Giáo VN Thng Nht. Hòa Thượng là người đầy đm lược, đầy kinh nghim vi ch nghĩa CS. Tôi rt kính mến Hòa Thươ.ng. Tôi đã viết thư khích l Hòa Thươ.ng. Tôi luôn luôn cu nguyn cho vic làm ca Hòa Thượng được thành công viên mãn.
Cuộc tranh đấu hiện nay tại VN do Hòa Thượng Huyn Quang lãnh đạo thực vô cùng khó khăn. Khó khăn bởi bao mưu cơ, sảo thuật của Thích trí Quang cũ, nằm trong Giáo Hội Nhà Nước, ngăn tr. Khó khăn bi Hiến Pháp CS bao vây. Khó khăn ngay trong ni b Giáo Hi Thng Nht n Chương "Tp quyn, k th" thiếu thin cm vi các Giáo Phái Pht Giáo khác. Và, có th có khó khăn vi các tôn giáo khác, qua nhng nhn xét sâu xa. (7)
Tuy nhiên, CS là k thù chung ca nhân loạị Nhân loi xóa b nhng mc cm riêng tư, và tích cc phc v chung cho chính nghĩạ Chính nghĩa quyết thng. Ch nghĩa CS không sao tránh khi lut đào thi, và chc chn phi nhường ch cho th chế t do, dân ch ca toàn dân VN.
* Kết lun
Giáo Pháp ca đức Pht Thích Ca Mưu Ni thm nhun vào lòng dân VN đã gần hai ngàn năm. Phật Giáo đã hòa đồng cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc. Phật Giáo đã sản sinh những nhân vật đức hài hòa trong sự nghiệp cứu nước và dng nước. Nhưng, đôi khi, Pht Giáo cũng b nhng nhân vt cy tài, thế, k th, thiếu sáng sut, thiếu h x, gây tan nát cho đạo giáo và Quc Gia không ít.
Pht Giáo tôn trng t do nhân ch tuyt đối, không ch trương "tp quyn" cho mt cá nhân hay mt nhóm ngườị Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực.
Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của CS. Ba mươi năm nay Giáo Hi Pht Giáo VN Thng Nht ch trương, "tp quyn" chưa thy đem li tia hy vng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo VN tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử VN tỵ nạn tại Úc không nơi nương ta, mc cho danh d Pht Giáo VN b tn thương nng n !
Ôi, Pht Giáo VN ! Ôi, Pht Giáo VN !
Ai gây chi lm nim đau kh,
Vũ tr nài van đến nghn li !
(La thiêng đạo mu)
Kính bch Quý Ngài,
Kính thưa Quý vị,
Bạch thư này viết ra trong hoàn cnh bt đắc dĩ. Bch thư này được viết ra bng nhng giòng lệ nóng thương đời, thương đạọ Bch thư này ra đời, có người ưa có người không ưa, vì sự thật mất lòng. Nhưng, gi di phi nhường ch cho s tht, để cho Quc Gia, cho Đạo Pháp được trường tn, cho nhân dân VN được thc tnh, và cho nhân loi được hưởng nim an lc ca chính pháp.
Cu nguyn Tam Bo t bi gia h, chuyn hóa đất nước VN, đạo giáo VN, nhân dân VN sm thoát khi ách CS, thành mt nước t do, dân ch, m no, hnh phúc và thnh vươ.ng. Chuyn hóa tâm nim ca các cp Pht Giáo trong và ngoài nước, biết rõ mình, như li Pht dy, tiến tu và đạt ti đích giác ng, gii thoát. Cu mong Quý Ngài và Quý vị luôn luôn được niềm an vui như ý, trong ánh đạo từ bi và trí tuệ.


Thích Tâm Châu (1921- ) là một vị hòa thượng Phật giáo Việt Nam. Ông từng là một vị lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

[sửa] Thân thế và hoạt động

Ông sinh tại Ninh Bình, Việt Nam, quy y học đạo từ năm 11 tuổi.
Ông là một thành viên sáng lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế năm 1951, sang năm sau thì được tôn là Phó chủ tịch hội đồng trị sự Giáo hội Tăng già Việt Nam.
Đầu thập niên 1960 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, ông cùng Thích Trí QuangThích Thiện Minh điều hành Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo để tranh đấu đòi bình quyền tôn giáo. Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời năm 1964 thì ông được chọn làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội.
So với đường lối đấu tranh kịch liệt chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Thích Trí Quang (nhóm Ấn Quang) thì hòa thượng Thích Tâm Châu cổ động con đường trung hòa hơn[1] (thường gọi là nhóm Việt Nam Quốc tự hay nhóm Viện Hóa Đạo).
Sau năm 1975, ông tỵ nạn tại Canada và định cư tại Montréal, nơi ông sáng lập Tổ đình Từ Quang.
Hòa thượng hiện là Thượng thủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới[2].
Ông còn là một học giả Phật học với nhiều tác phẩm dịch thuật và khảo luận.

[sửa] Chú thích

  1. ^ http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=view&id=906
  2. ^ http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=136394

[sửa] Liên kết ngoài